Sau đột quỵ 2 năm vẫn có thể phục hồi ngôn ngữ, không ho sặc chưa chắc đã nuốt an toàn

Nhiều gia đình cho rằng người bệnh đột quỵ đã qua 6 tháng hoặc một năm thì khó có thể phục hồi thêm, nhất là khả năng nói và giao tiếp. Tuy nhiên, não bộ vẫn có khả năng thích nghi, tái tổ chức các kết nối thần kinh thông qua tập luyện. Bên cạnh phục hồi ngôn ngữ, việc phát hiện rối loạn nuốt, đặc biệt là tình trạng hít sặc thầm lặng, cũng rất quan trọng để hạn chế biến chứng viêm phổi.

Tại Hội nghị Khoa học Kỹ thuật Bệnh viện An Bình năm 2026, TS Lê Khánh Điền – Trưởng khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện An Bìnhtrình bày báo cáo “Cập nhật phục hồi chức năng sau đột quỵ: Mất ngôn ngữ và rối loạn nuốt”, nhấn mạnh những tiến bộ trong phục hồi chức năng thần kinh và đánh giá khả năng nuốt ở người bệnh sau đột quỵ.

Sau đột quỵ 2 năm vẫn có thể phục hồi ngôn ngữ, không ho sặc chưa chắc đã nuốt an toàn
Báo cáo của TS Lê Khánh Điền cung cấp các cập nhật quan trọng về quá trình phục hồi chức năng sau đột quỵ, tập trung đặc biệt vào hai vấn đề là mất ngôn ngữ và rối loạn nuốt

Qua 6 tháng, người bệnh đột quỵ còn khả năng phục hồi không?

Trước đây, phục hồi chức năng sau đột quỵ thường được chú trọng nhằm phòng ngừa teo cơ, cứng khớp và duy trì khả năng vận động. Tuy nhiên, những hiểu biết mới về tính mềm dẻo thần kinh đã mở rộng cách tiếp cận điều trị.

Tính mềm dẻo thần kinh là khả năng não bộ thay đổi, thích nghi và tổ chức lại các kết nối thần kinh để đáp ứng với quá trình học tập, trải nghiệm và tập luyện.

Theo TS Lê Khánh Điền, khả năng thích nghi này không chấm dứt sau 3 tháng, 6 tháng hay một năm kể từ khi xảy ra đột quỵ.

Người bệnh ở giai đoạn mạn tính, kể cả sau hơn 2 năm, vẫn có thể đạt được những cải thiện về chức năng nếu được đánh giá và tập luyện phù hợp.

Điều quan trọng không chỉ là số lượng tế bào thần kinh còn lại mà còn ở khả năng tổ chức và củng cố các mạng lưới kết nối thần kinh.

Vì vậy, gia đình không nên mặc định rằng người bệnh đã qua giai đoạn phục hồi chỉ vì thời gian từ lúc đột quỵ đã kéo dài. Tuy nhiên, mức độ cải thiện ở mỗi người sẽ khác nhau, tùy thuộc tổn thương não, tình trạng sức khỏe và khả năng tham gia tập luyện.

Sau đột quỵ 2 năm vẫn có thể phục hồi ngôn ngữ, không ho sặc chưa chắc đã nuốt an toàn
TS Lê Khánh Điền nhấn mạnh rằng tính mềm dẻo thần kinh đóng vai trò là nền tảng cốt lõi cho mọi can thiệp thần kinh học, cho phép não bộ tái cấu trúc và thích nghi ngay cả ở giai đoạn mạn tính

Tập muộn vẫn có thể cải thiện mất ngôn ngữ sau đột quỵ

Mất ngôn ngữ là một trong những di chứng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người bệnh sau đột quỵ. Người bệnh có thể gặp khó khăn khi nói, hiểu lời người khác, gọi tên đồ vật hoặc diễn đạt nhu cầu của mình.

Báo cáo cho thấy quá trình phục hồi ngôn ngữ liên quan đến sự tái tổ chức hoạt động của các vùng não, đặc biệt là những vùng thuộc bán cầu não trái còn bảo tồn chức năng.

Ngôn ngữ trị liệu được triển khai càng sớm, khi tình trạng người bệnh cho phép, càng có lợi cho quá trình phục hồi.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa việc tập luyện ở giai đoạn muộn không còn hiệu quả.

Các nghiên cứu được giới thiệu trong báo cáo ghi nhận người bệnh mất ngôn ngữ sau đột quỵ ở giai đoạn mạn tính, kể cả trên 2 năm hoặc ở độ tuổi trên 75, vẫn có thể đạt được tiến bộ khi được can thiệp phù hợp.

Với người nhà, điều quan trọng là đưa người bệnh đến cơ sở phục hồi chức năng để được đánh giá khả năng ngôn ngữ, xây dựng chương trình tập luyện và theo dõi tiến triển, thay vì tự kết luận rằng người bệnh không thể cải thiện thêm.

Sau đột quỵ 2 năm vẫn có thể phục hồi ngôn ngữ, không ho sặc chưa chắc đã nuốt an toàn
Báo cáo còn trích dẫn nhiều nghiên cứu y khoa về hoạt động của vỏ não liên quan đến ngôn ngữ thông qua công nghệ chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI)

Không ho, không sặc vẫn có thể nuốt không an toàn

Bên cạnh mất ngôn ngữ, rối loạn nuốt là vấn đề cần đặc biệt chú ý ở người bệnh sau đột quỵ.

Rối loạn nuốt có thể khiến thức ăn, nước uống hoặc dịch tiết đi vào đường thở thay vì xuống thực quản. Tình trạng này làm tăng nguy cơ viêm phổi do hít sặc.

Đáng lo ngại, không phải người bệnh nào bị hít sặc cũng có biểu hiện ho hoặc nghẹn rõ ràng.

Hiện tượng thức ăn hoặc dịch đi vào đường thở nhưng người bệnh không ho, không có dấu hiệu sặc dễ nhận thấy được gọi là hít sặc thầm lặng.

Theo số liệu được TS Lê Khánh Điền trình bày, tỷ lệ hít sặc trong giai đoạn cấp sau đột quỵ được ghi nhận khoảng 16 – 52%, trong đó hít sặc thầm lặng chiếm khoảng 8 – 27% ở các nhóm nghiên cứu được đề cập.

Vì vậy, việc người bệnh uống nước mà không ho hoặc ăn không bị nghẹn chưa đủ để khẳng định chức năng nuốt an toàn.

Người bệnh đột quỵ cần được nhân viên y tế sàng lọc khả năng nuốt trước khi cho ăn, uống hoặc sử dụng thuốc qua đường miệng. Nếu chưa được xác nhận nuốt an toàn, gia đình không nên tự cho người bệnh thử uống nước hoặc ăn bằng miệng.

Sau đột quỵ 2 năm vẫn có thể phục hồi ngôn ngữ, không ho sặc chưa chắc đã nuốt an toàn
TS Lê Khánh Điền lưu ý tình trạng khó nuốt và nguy cơ hít sặc, đồng thời giới thiệu các phương pháp đánh giá chuyên sâu như nội soi ống mềm (FEES) và chụp X-quang nuốt barium có chỉnh sửa (MBSS/VFSS) nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân

Nội soi FEES giúp đánh giá khả năng nuốt như thế nào?

Một trong những kỹ thuật được TS. Lê Khánh Điền giới thiệu là nội soi ống mềm đánh giá chức năng nuốt, gọi tắt là FEES.

Đây là phương pháp sử dụng ống nội soi mềm để quan sát vùng họng và thanh quản, qua đó đánh giá tình trạng dịch tiết, thức ăn tồn đọng và dấu hiệu thức ăn hoặc chất lỏng đi vào đường thở trong quá trình nuốt.

FEES là một trong hai phương pháp đánh giá chức năng nuốt bằng thiết bị thường được sử dụng, bên cạnh kỹ thuật chụp X-quang quay video quá trình nuốt (VFSS).

Tại Bệnh viện An Bình, kỹ thuật FEES đã được triển khai để hỗ trợ đánh giá rối loạn nuốt ở người bệnh sau đột quỵ.

Thông qua kết quả đánh giá, bác sĩ và chuyên viên phục hồi chức năng có thêm cơ sở lựa chọn bài tập phục hồi nuốt, điều chỉnh cách ăn uống và xem xét thời điểm người bệnh có thể chuyển sang ăn bằng miệng hoặc rút ống nuôi ăn khi phù hợp.

Điều này đặc biệt quan trọng với những trường hợp có nguy cơ hít sặc thầm lặng, khi chỉ quan sát biểu hiện bên ngoài có thể không phát hiện đầy đủ vấn đề.

Sau đột quỵ 2 năm vẫn có thể phục hồi ngôn ngữ, không ho sặc chưa chắc đã nuốt an toàn
Thông điệp quan trọng từ báo cáo của TS Lê Khánh Điền là phục hồi sau đột quỵ vẫn có thể tiếp tục ở giai đoạn mạn tính, trong khi an toàn nuốt cần được đánh giá đúng ngay từ đầu

Gia đình cần lưu ý gì khi chăm sóc người bệnh sau đột quỵ?

Phục hồi chức năng sau đột quỵ không chỉ là tập đi hoặc tập vận động tay chân mà còn bao gồm ngôn ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu và hỗ trợ tâm lý.

Với người gặp khó khăn trong giao tiếp, gia đình nên phối hợp với chuyên viên để duy trì các hoạt động tập luyện phù hợp.

Với người có rối loạn nuốt, cần tuân thủ hướng dẫn của nhân viên y tế về đường ăn, dạng thức ăn, tư thế và các biện pháp bảo đảm an toàn khi ăn uống. Không tự ý rút ống nuôi ăn hoặc thay đổi chế độ ăn khi chưa được đánh giá.

Thông điệp quan trọng từ báo cáo của TS Lê Khánh Điền là phục hồi sau đột quỵ vẫn có thể tiếp tục ở giai đoạn mạn tính, trong khi an toàn nuốt cần được đánh giá đúng ngay từ đầu.

Kiên trì tập luyện, tái đánh giá chức năng định kỳ và phối hợp với đội ngũ phục hồi chức năng sẽ giúp người bệnh có thêm cơ hội cải thiện khả năng giao tiếp, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống.

Ngày 17/10/2026, Bệnh viện An Bình tổ chức Hội nghị Khoa học Kỹ thuật năm 2026 với gần 500 đại biểu tham dự. Chương trình gồm 32 báo cáo thuộc ba chuyên đề Ngoại khoa, Nội khoa và Điều dưỡng, nhằm cập nhật kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm lâm sàng và thúc đẩy ứng dụng tiến bộ y học trong chăm sóc người bệnh.

Sau đột quỵ 2 năm vẫn có thể phục hồi ngôn ngữ, không ho sặc chưa chắc đã nuốt an toàn

Trong đó, báo cáo của TS Lê Khánh Điền – Trưởng khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện An Bình tập trung vào khả năng phục hồi ngôn ngữ ở giai đoạn mạn tính sau đột quỵ và vai trò của kỹ thuật nội soi FEES trong phát hiện rối loạn nuốt, hít sặc thầm lặng.

Nguồn: Alobacsi